Thuốc điều trị lao

thuốc isoniazid

Đại cương về bệnh lao

Bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm, hiện nay nguyên nhân và cơ chế gây bệnh đã được biết rõ và ngày càng được nghiên cứu sâu.

Từ khi streptomycin được đưa vào sử dụng điều trị lao, đến nay đã có hàng chục loại thuốc ra đời chống lao. Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể bị tổn thương lao có thể được điều trị khỏi bằng thuốc chống lao.

Bệnh lao được điều trị nội khoa là chủ yếu, điều trị ngoại khoa chỉ áp dụng với một số trường hợp.

Bệnh lao càng kéo dài thì di chứng càng nặng nề, ảnh hưởng đến sức khoẻ, khả năng lao động của người bệnh, vì vậy phát hiện và điều trị bệnh càng sớm càng tốt.

Vi khuẩn lao có tính kháng thuốc có thể kháng lại với tất cả các thuốc chống lao. Các thuốc chống lao hiện nay đang dùng đã  có từ lâu, thuốc mới nhất cũng được tìm ra cách đây hơn 30 năm thêm vào đó và việc chẩn đoán và điều trị bệnh tuỳ tiện vì thế bệnh lao kháng thuốc ngày càng nhiều.

Điều trị bệnh lao nhằm mục đích: khỏi bệnh, giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ kháng thuốc giảm sự lây truyền trong cộng đồng cuối cùng là thực hiện ước mơ muôn đời của loài người là thanh toán bệnh lao.

Tác dụng của isoniazid

Isoniazid là một trong những thuốc hóa học đầu tiên được chọn để điều trị bệnh lao. Thuốc có tính đặc hiệu cao, tác dụng chống lại Mycobacterium tuberculosis và các Mycobacterium không điển hình khác như M. bovis.

Chỉ định của thuốc

Dùng trong dự phòng bệnh lao

Isoniazid được chỉ định dự phòng lao cho nhóm những người bệnh sau:

  • Những người trong gia đình, những người thường xuyên tiếp xúc với người mới được chẩn đoán bệnh lao (AFB (+)) mà có test Mantoux dương tính và chưa tiêm phòng BCG.
  • Người có test Mantoux(+) đang được điều trị đặc biệt như điều trị corticosteroid dài ngày, thuốc ức chế miễn dịch, thuốc độc hại với tế bào hoặc điều trị bằng chiếu tia xạ.
  • Người bệnh nhiễm HIV có test Mantoux dương tính hoặc biết đã có tiếp xúc với người bệnh có khuẩn lao trong đờm, ngay cả khi test Mantoux âm tính.

Isoniazid được chỉ định phối hợp với các thuốc chống lao khác: rifampicin, pyrazinamid, streptomycin hoặc ethambutol theo những phác đồ điều trị chuẩn. Nếu vi khuẩn đã kháng isoniazid hoặc người bệnh gặp tác dụng không mong muốn nặng phải ngừng dùng isoniazid thay bằng thuốc khác.

Chống chỉ định của thuốc

Những người mẫn cảm với thuốc, suy gan nặng, viêm gan nặng, viêm đa dây thần kinh và người động kinh.

Lưu ý với  những người suy giảm chức năng thận nặng, có độ thanh thải creatinin dưới 25 ml/phút, phải giảm liều isoniazid và đặc biệt là người chuyển hóa isoniazid chậm.

Trong thời gian điều trị thuốc nếu uống rượu hoặc phối hợp với rifampicin thì có nguy cơ làm tăng độc tính với gan.

Tác dụng không mong muốn của thuốc mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, đau vùng thượng vị, viêm gan (vàng da, vàng mắt, tăng transaminase), viêm dây thần kinh ngoại vi biểu hiện tê bì tay hoặc chân. Một số trường hợp hiếm gặp giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt, thiếu máu, viêm mạch, đau lưng, đau khớp, nổi ngứa rất thường gặp, mẫn cảm như ban da, methemoglobin huyết, bí đái, tăng cân, đau tại nơi tiêm.

Liều dùng và cách dùng

Tốt nhất là dùng trước ăn 1 giờ hoặc sau ăn 2 giờ. Có thể uống thuốc cùng với bữa ăn, nếu như bị kích ứng đường tiêu hóa.

Trường hợp phòng bệnh Đối với Trẻ em uống 5 mg/kg/24 giờ, tối đa 300 mg/24 giờ, ngày một lần trong 6 – 12 tháng. Với người lớn uống 5 mg/kg/24 giờ (liều thường dùng là 300 mg/24 giờ, dùng hàng ngày trong 6 – 12 tháng.

 

You might also like More from author

Leave A Reply

Your email address will not be published.