Cloroquin trong điều trị bệnh sốt rét

 Cloroquin là một thuốc điều trị bệnh sốt rét. Vậy cơ chế tác dụng và chỉ định sử dụng của loại thuốc này như thế nào?

cloroquin

Cơ chế tác dụng của thuốc

Cloroquin có tác dụng tốt trên các thể hồng cầu của chủng  P. vivax, P. malariae và hầu hết các chủng P. falciparum (trừ thể giao tử). Cơ chế tác dụng chống  sốt rét  của thuốc còn chưa rõ nhưng có thể do Thuốc ức chế một số enzym có lẽ một phần do tương tác với DNA.,  tác động đến quá trình tiêu hóa haemoglobin bằng cách tăng pH trong nang của tế bào ký sinh trùng sốt rét. Thuốc  làm  cản trở sự tổng hợp nucleoprotein của ký sinh trùng sốt rét.

Dược động học của thuốc

Cloroquin hấp thu nhanh  gần như hoàn toàn tại đường tiêu hóa, chỉ có một tỷ lệ nhỏ được thấy trong phân. Khoảng 55% thuốc ở trong huyết tương liên kết với các thành phần không khuếch tán của huyết tương. Cloroquin thải trừ chậm, tăng lên khi nước tiểu bị acid hóa Trong khi đó ở não, tủy sống thuốc tập trung chỉ cao gấp 10 đến 30 lần thuốc trong huyết tương. Cloroquin bị thoái giáng  ở trong cơ thể, sản phẩm chuyển hóa chính là desethyl cloroquin (khoảng 1/4 hàm lượng các chất thấy trong nước tiểu).  Cloroquin có thể tồn lưu nhiều tháng hoặc nhiều năm trong cơ thể chúng ta.

Chỉ định của thuốc

Cloroquin được chỉ định dùng để phòng ngừa , điều trị  cơn sốt rét cấp tính do P. malariae, P. vivax, P. ovale và chủng P. falciparum nhạy cảm với thuốc.Chữa viêm đa khớp dạng thấp, lupus ban đỏ.

Ngoài ra thuốc cũng được dùng để diệt amíp ngoài ruột.

Chống chỉ định của thuốc.

Người có các thay đổi về thị lực, võng mạc gây ra bởi 4 – aminoquinolin hoặc bất kỳ nguyên nhân khác

Người quá mẫn với các hợp chất 4 – aminoquinolin.

. Tuy nhiên, trong khi  điều trị sốt rét cấp do những chủng plasmodium nhạy cảm, cần  chú ý phải  cân nhắc kỹ giữa lợi ích và rủi ro đối với người bệnh.

Thận trọng khi dùng thuốc.

Chú ý khi tiêm cloroquin tĩnh mạch cần phải  truyền chậm vì có thể gây độc cho tim.\

Nếu thấy có rối loạn máu nặng trong khi đang điều trị thuốc thì ngừng thuốc ngay.

Nếu thấy có rối loạn máu nặng trong khi đang điều trị thuốc thì ngừng thuốc ngay.

Cần chú ý khi sử dụng thuốc cho những người  bị nghiện rượu, vì thuốc có khả năng tích lũy lâu dài ở gan.

Chú ý  tới những người có bệnh về gan, thận, hoặc có những vấn đề về chuyển hóa porphyrin, bệnh vẩy nến, tiền sử động kinh.x

Nếu người bệnh dùng thuốc trong một khoảng thời gian dài, cần có các xét nghiệm đều đặn về công thức máu.

 

 

Liều lượng và cách dùng thuốc.

Liều lượng của cloroquin  thường được tính bằng  liều cloroquin base. 300 mg cloroquin base tương đương với 500 mg cloroquin phosphat hoặc tương đương với 400 mg cloroquin sulfat. Cloroquin base 40 mg tương đương với khoảng 50 mg cloroquin hydroclorid.

Liều điều trị cơn sốt rét cấp tính:

Liều uống thường dùng cho người lớn và trẻ em là: Tổng liều uống trong  vòng 3 ngày thông thường tương đương với liều cloroquin base 25 mg/kg/thể trọng. Cách dùng thuốc như sau: lần đầu 10 mg/kg, sau 6 – 8 giờ: 5 mg/kg, 2 ngày sau uống 5 mg/kg/ngày. Hoặc trong  2 ngày đầu: 10 mg/kg/ngày, ngày thứ ba: 5 mg/kg.

Thuốc tiêm: Có thể dùng trong trường hợp bị  rất nặng hoặc người bệnh không thể uống  thuốc được. Phác đồ tiêm cho người lớn và trẻ em được Tổ chức Y tế thế giới Who  khuyến cáo như sau:

 

 

You might also like More from author

Leave A Reply

Your email address will not be published.