Các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp.

Tăng huyết áp là vấn đề thường gặp hiện nay, nếu không chú ý thì cơn tăng huyết áp có thể gây nguy hiểm đến  tính mạng người bệnh. Vậy các nhóm thuốc  điều trị  bệnh tăng huyết áp là gi?

Theo Tổ chức Y Tế thế giới (WHO),  huyết áp tốt nhất là 120/80mmHg, số 120 là số huyết áp trên và 80 là số dưới. Người bệnh bị cao huyết áp khi 2 số trên dưới cao hơn 140/90 mmHg.

tăng huyết áp

6 nhóm thuốc thường dùng để điều trị tăng huyết áp đó là:

Nhóm các thuốc gây ức chế men chuyển:

Bao gồm có  các thuốc sau captopril, enalapril, , và  lisinopril, benazepril…, Thuốc này được chọn khi người bị kèm hen suyễn. Tác dụng phụ của thuốc: làm tăng kali huyết và gây chứng ho khan. Các thuốc này ức chế một enzyme có tên là men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzyme, viết tắt là  ACE).. Nếu men chuyển ACE bị thuốc ức chế tức là làm cho không hoạt động được thì sẽ không sinh ra angiotensin II, thì sẽ có hiện tượng giãn mạch và làm hạ huyết áp.

Nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương:

Bao gồm có reserpin, methyldopa, clonidin… Hiện nay ít dùng do các  tác dụng phụ gây trầm cảm, khi ngừng  sử dụng thuốc đột ngột sẽ làm tăng vọt huyết áp. Cơ chế của  các thuốc này  là hoạt hóa một số tế bào thần kinh gây hạ huyết áp.

Nhóm thuốc lợi niệu.

Bao gồm có furosemid, hydroclorothiazid,,, sprironolacton, amilorid, và indapamid,  triamteren… Cơ chế của  các thuốc này  là là làm giảm sức cản mạch ngoại vi  làm hạ huyết áp., làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, Thường sử dụng đơn độc khi bị cao huyết áp nhẹ, dùng phối hợp với những  thuốc khác khi bệnh cao huyếp áp nặng thêm.

Các  thuốc đối kháng canxi:

Bao gồm có amlodipin,  nifedipin, nicardipin, , felidipin, ,, và  diltiazem, amlodipin … Cơ chế của  các thuốc là chặn dòng ion canxi không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu làm  giãn mạch và từ đó gây hạ huyết áp. Thuốc, hiệu quả  đối với những bệnh nhân cao tuổi, không ảnh hưởng đến chuyển hóa đường, mỡ trong cơ thể. sử dụng  tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực

Nhóm các thuốc chẹn beta.

Bao gồm có các loại thuốc: , metoprolol propranolol, vadnadolol,,  pindolol,  timolol,  và atenolol… Cơ chế do làm ức chế thụ thể beta-giao cảm ở  trên tim và mạch ngoại vi, do đó làm chậm nhịp tim và khiến  hạ huyết áp. Thuốc  thường dùng thuốc cho  các bệnh nhân có kèm  cơn đau thắt ngực hoặc nhức nửa đầu. Chống chỉ định đối với  những người có kèm hen suyễn, nhịp tim chậm. suy tim,

Nhóm  các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II

Thuốc đầu tiên được dùng là losartan, sau đó là các thuốc như , candesartan, valsartan,irbesartan. Nhóm thuốc mới này có tác dụng  làm hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường tương đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn beta và , ức chế men chuyển. Lợi điểm của thuốc nhóm này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây  chứng ho khan như nhóm  thuốc ức chế men chuyển hay không gây phù như nhóm thuốc đối kháng canxi. Đặc biệt, tác dụng hạ huyết áp của thuốc tốt hơn nếu phối hợp với thuốc lợi tiểu thiazid.  Tác dụng phụ của thuốc  có thể gặp là gây chóng mặt, hoặc rất hiếm là gây tiêu chảy. Chống chỉ định của thuốc là  thuốc không dùng cho phụ nữ có thai hoặc những  người bị dị ứng với thuốc.

 

You might also like More from author

Leave A Reply

Your email address will not be published.